Điều 1086 §1 quy định rằng: "Hôn nhân giữa một người đã được Rửa Tội trong Giáo Hội Công giáo hoặc đã được nhận vào Giáo Hội ấy và không rời bỏ Giáo Hội ấy bằng một hành vi dứt khoát với một người không được Rửa Tội, thì bất thành.". Người Kitô hữu
Quang Minh kết hôn với Hồng Đào vào năm 1995. Cả hai từng là cặp dôi song hành từ trên sân khấu đến ngoài đời. Cuộc hôn nhân kéo dài 24 năm và kết thúc vào năm 2019, để lại nhiều tiếc nuối cho khán giả. Chia sẻ trên sóng talkshow Lối ra của FPT Play, Quang Minh nhiều lần nghẹn lời khi nhắc lại chuyện cũ.
Mỗi người đều có lựa chọn của riêng mình, có những người không muốn yêu đương, kết hôn cốt để bảo vệ niềm vui cuộc sống của họ, và không có gì sai khi lựa chọn như vậy. 1. Bạch Dương. Bạch Dương có một chuỗi sở thích rộng lớn và một nguồn năng lượng
Trong ngày hôn lễ, Vương Khả Khả biết được sự thật, tức giận Lê Tiểu Tuấn vì đã giấu giếm. Lê Tiểu Tuấn giải thích mà không có kết quả. Vương Khả Khả đào hôn rời đi. Sau khi 2 bên tĩnh tâm suy nghĩ, kiểm điểm khuyết điểm của bản thân, hai người giảng hòa
Khổ hơn nữa, cô đào hôn là vì chồng cô là một người tự kỷ, vậy nên cô ghét bỏ vô cùng, chính cô cũng đã có người trong lòng, thế nên ngày ngày đau khổ, giày vò, tự khiến bản thân thành một bi kịch. Ninh Tri hốt hoảng nhớ lại kết cục thê thảm của nữ phụ, cô quyết định sẽ không bao giờ đào hôn? Gả vào hào môn không sướng ư? Tiền không xinh đẹp ư?
. HÔN NHÂN KHÁC ĐẠOLm. Antôn Hà văn MinhWHĐ - Nhạc sĩ tác giả bài ca “Tình người ngoại đạo” đã trình bày sự ngần ngại khi yêu người Công giáoLạy Chúa con thương nàng đã lâu rồi Thương thì nhiều nhưng con chưa dám nói Con thương nàng đã lâu rồi mà chưa dám hé môi Ngại ngùng không cùng tôn giáo sao lại ngần ngại, bởi có nhiều người hiểu lầm cứ ngỡ rằng đạo Công giáo là vật cản lớn nhất làm cho đôi bạn trẻ khó tiến tới hôn nhân, có bạn đã tâm sự “Em và cô ấy đã yêu nhau được hơn 5 năm. Chúng em yêu nhau rất chân thành, em vừa ra trường, công việc cũng ổn, em muốn kết hôn với cô ấy. Em về nhà và xin phép gia đình hai bên, nhưng hai bên đều không đồng ý vì cô ấy theo đạo Thiên Chúa, còn nhà em thì theo lương. Hai gia đình bất đồng quan điểm”.Quả thật, theo Giáo luật điều 1055 khoản 2 “Giữa những người đã chịu phép rửa tội, không thể có khế ước hôn phối hữu hiệu nếu đồng thời không phải là bí tích”. Có nghĩa là người Kitô hữu khi kết hôn thì hôn phối của họ cần phải được cử hành sao cho thích hợp để trở thành Bí tích, để được như thế điều kiện cần phải có là hai người phối ngẫu phải là Kitô hữu, vì chỉ có Kitô hữu mới có thể trở thành thừa tác viên trao bí tích hôn phối cho như thế phải chăng Giáo hội Công giáo đang cướp đoạt sự tự do của tình yêu và đang giới hạn tình yêu trong khuôn khổ của niềm tin tôn giáo? Phải chăng Giáo hội Công giáo đang đòi hỏi việc tỏ bày tình yêu giữa người nam và người nữ phải được thể hiện như là một lời tuyên xưng đức tin? Thưa không phải thế, bởi Giáo hội luôn ý thức rằng, mình được hiện hữu nhờ bởi Thiên Chúa yêu thương. Tình yêu này được Thiên Chúa tỏ bày trước tiên qua công trình tạo dựng của Ngài. Sách Sáng Thế đã tường thuật “Thiên Chúa tạo dựng con người theo hình ảnh của Người. Người đã tạo dựng người nam và người nữ. Thiên Chúa thấy điều Người làm điều đó tốt và rất tốt St 1, 27. 31. Việc tạo dựng giống hình ảnh của Ngài chính là giống bản tính Ngài, một bản tính được thánh Gioan minh định Thiên Chúa là Tình yêu 1 Ga 4, 8, vì thế với hình ảnh giống Ngài, con người được mời gọi đi vào yêu thương và sự hiệp thông. Theo thần học Do thái, “vũ trụ được tạo dựng không phải để các tinh tú và các vật thể khác gia tăng trong đó, nhưng để có một không gian cho giao ước, để Thiên Chúa thể hiện tình yêu của Ngài và con người đáp lại”. Tạo dựng là để thực hiện cuộc đối thoại tình yêu của Thiên Chúa với con người, cuộc đối thoại được biểu tỏ trước tiên qua tình yêu mà người nam và người nữ tỏ bày cho Hôn nhân tự nhiênNhư vậy, qua việc tạo dựng con người, Thiên Chúa đã đặt để nơi người nam và người nữ một khả năng yêu thương giống như Thiên Chúa. Theo tường thuật trong sách Sáng Thế, Thiên Chúa tạo dựng nên một mình Ađam trước nhưng ông đã không tìm thấy một niềm vui, ông cảm thấy cô đơn. Thiên Chúa hiểu nỗi cô đơn đó, nên Ngài đã phải thốt lên Con người ở một mình không tốt, nên Ngài đã tạo dựng thêm Evà, và khi vừa thấy Evà, Ađam đã thể hiện một niềm vui khôn tả, đến nỗi ông đã lìa bỏ mọi sự mà gắn bó với vợ mình, và cả hai thành một xương một thịt X. St 2, 18-24. Việc lìa bỏ mọi sự để tìm đến với Evà và cả hai gắn kết với nhau để nên một xương một thịt, theo Đức Bênêđictô XVI trong Thông điệp “Thiên Chúa là Tình Yêu” Deus caritas est, nói lên hai điều này “eros như được cắm rễ sâu trong bản tính của con người. Ađam luôn đi tìm và lìa cha mẹ”, để tìm người đàn bà; cả hai hợp lại mới nói lên tính trọn vẹn của con người, “cả hai trở thành một xương một thịt”. Điều thứ hai cũng quan trọng không kém ngay từ lúc sáng tạo, eros hướng con người đến hôn nhân, đến sự ràng buộc, đến sự duy nhất và dứt khoát”[1]. Quả vậy, Thiên Chúa đã tạo dựng nên con người có nam có nữ và đặt để trong bản tính con người một yếu tố đặc biệt như động lực thúc đẩy họ tìm đến nhau để có thể kết hợp với nhau làm nên một thân xác, đó là yếu tố “tính dục” và là một phần làm nên tình vậy việc nam nữ tới tuổi trưởng thành thể hiện tình yêu dành cho nhau nó thuộc về bản chất, do đó, chẳng ai có quyền ngăn cản tình yêu. Bởi thế, Giáo Hội luôn tỏ lòng tôn trọng các cuộc hôn nhân tự nhiên hợp pháp. Cũng nên biết rằng, khi thiết lập định chế hôn nhân, Thiên Chúa ghi dấu ấn vào trong định chế này mang đặc tính đơn hôn và vĩnh hôn, như Công Đồng Triđentinô đã tuyên tín “Mọi hôn nhân hợp pháp do luật tự nhiên và thiên định đều vĩnh viễn và bất khả phân ly”, điều đó có nghĩa hôn nhân của những lương dân nếu không có ngăn trở theo luật tự nhiên và thiên luật thì được coi là hợp thật, “Đấng Tạo Hóa đã thiết lập và ban những quy luật riêng cho cộng đồng của sự sống và tình yêu đầy thân mật giữa đôi vợ chồng. Cuộc sống chung đó được gầy dựng do giao ước hôn nhân, nghĩa là do sự ưng thuận không thể rút lại của từng cá nhân. Như thế, bởi một hành vi nhân linh, trong đó, hai vợ chồng tự hiến cho nhau và đón nhận nhau, nhờ sự an bài của Thiên Chúa, phát sinh một định chế vững chắc có giá trị ngay cả đối với xã hội. Vì lợi ích của lứa đôi, của con cái và của xã hội, mối dây liên kết linh thiêng này không thể đặt dưới sự phân xử tùy tiện của con người” GS số 48.2. Hôn nhân bí tíchCâu hỏi được đặt ra là vậy tại sao Giáo hội lại không cho người Công giáo kết hôn với người ngoài Công giáo? Nói không cho là hoàn toàn sai. Như đã nói Giáo hội luôn tôn trọng tình yêu giữa người nam và người nữ, Giáo hội tôn trọng sự tự do trong tình yêu và không bao giờ đưa ra một sự kỳ thị nào về tôn giáo, màu da, ngôn ngữ... Tuy nhiên, Giáo hội cũng ý thức về trách vụ của mình là phải chăm lo thiện ích cho con cái của mình, nhất là thiện ích về sự sống đời đời, sự sống mà Chúa Kitô đã hứa ban tặng cho những ai tin vào Người. Và vì thế, sự sống đời đời có một giá trị cao hơn các giá trị khác. Do đó, để giúp con cái của mình luôn trung thành với đức tin hầu có thể đạt tới sự sống đời đời, Giáo hội đồng ý cho phép con cái của mình kết hôn với người ngoài Giáo hội với một số điều kiện. Chung quy các điều kiện đó liên quan đến đời sống đức tin của người Công giáo, sự cho phép này theo thuật ngữ chuyên môn gọi là phép “chuẩn hôn phối”.Để hiểu rõ tại sao phải chuẩn hôn phối cho người Công giáo khi kết hôn với người ngoài Công giáo, trước tiên chúng ta nói về mầu nhiệm Giáo Hội. Giáo hội là một cộng đoàn được Chúa quy tụ trong đức tin. Qua Bí tích Rửa tội, người tín hữu được trở nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô, và được tháp nhập vào thân thể huyền nhiệm của Người, tức Giáo hội, nói như thánh Phaolô Tông đồ “Cũng như trong một thân thể, chúng ta có nhiều bộ phận, mà các bộ phận không có cùng một chức năng, thì chúng ta cũng vậy tuy nhiều nhưng chỉ là một thân thể trong Đức Kitô, mỗi người liên đới với những người khác như những bộ phận của một thân thể” Rm 12,4-5. Như vậy, khi được tháp nhập vào thân mình huyền nhiệm này, tất cả mọi Kitô hữu không ai là người đơn lẻ trong Giáo hội, nhưng mọi người đều có sự hiệp thông và hiệp nhất tất cả đều có tương quan với các người khác và tất cả đều đồng quy về việc làm thành một thân thể sống động duy nhất, gắn liền với Chúa Kitô một cách sâu xa. Chúng ta hãy nhớ rõ điều này “là thành phần của Giáo hội có nghĩa là kết hiệp với Chúa Kitô và nhận được từ Người sự sống thiên linh khiến cho chúng ta sống như kitô hữu”[2].Chính trong sự hiệp thông này Giáo hội được nhìn như một cộng đoàn đức ái, một cộng đoàn với dáng vẻ của một thục nữ và được gọi là hiền thê của Chúa Kitô. Hình ảnh Giáo hội như là Hiền Thê của Chúa Kitô được Công đồng Vat. II trình bày trong hiến chế Lumen Gentium “Giáo hội... được mô tả như hiền thê tinh tuyền của Con chiên không tì ố, được Chúa Kitô yêu mến và hiến thân để thánh hóa', được Người kết hợp bằng một giao ước bất khả phân ly được nuôi dưỡng và săn sóc' không ngừng. Sau khi thanh tẩy hiền thê, Chúa Kitô muốn hiền thê ấy kết hợp và vâng phục mình trong tình yêu và trung tín ” LG số 6.Khi trình bày hình ảnh Hiền thê, Công đồng Vat. II diễn tả đến mối tương quan đối đương giữa Chúa Kitô và Giáo hội được xây dựng trên tình yêu, mà thánh Phaolô trình bày như là tình yêu hôn nhân vợ chồng x. Ep 5, 21 - 32. Trong thư gởi tín hữu Êphêsô Thánh Phaolô đã trình bày mối tương giao giữa Chúa Giêsu và Giáo hội là mối tương giao trong tình nghĩa vợ chồng x. Ep 5, 21 - 33. Qua đó Thánh Tông đồ đã trình bày Chúa Giêsu như vị Hôn thê của Giáo hội, đã yêu thương Giáo hội như người bạn trăm năm. Qua mối tương giao Chồng - Vợ, Thánh Phaolô đã khám phá chiều kích hiệp thông nên một “thân mình” giữa Chúa Kitô và Giáo hội “…người ta nuôi nấng và chăm sóc thân xác mình, cũng như Đức Kitô nuôi nấng và chăm sóc Giáo hội, vì chúng ta là một trong thân thể của Người. Sách Thánh có lời chép rằng “Chính vì thế, người đàn ông sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai sẽ thành một xương một thịt. Mầu nhiệm này thật là cao cả. Tôi muốn nói về Đức Kitô và Giáo hội” Ep 5, 29 - 32. Quả thật “Chúa Kitô yêu thương Giáo hội như hiền thê Người, Người trở thành gương mẫu của người chồng yêu thương vợ mình như yêu chính bản thân x. Ep 5, 25 - 28” x. LG số 7.Hiểu Giáo hội như thế, chúng ta mới nhận ra rằng, mỗi một Kitô hữu đều thuộc về dung mạo Hiền Thê Chúa Kitô, dung mạo đó được biểu lộ trong suốt đời sống của người Kitô hữu, cho nên việc kết hôn của người Kitô hữu không phải là một việc làm mang tính cá nhân, một công việc thuần tính tự nhiên, nhưng tự bản chất đó là công việc của Hội thánh, bởi mỗi tín hữu là một chi thể của Nhiệm thể Chúa Kitô, kết nên hình ảnh Hiền Thê của Người. Vì là công việc thuộc về Giáo hội, nên việc kết hôn của người tín hữu phải thực sự diễn tả trọn vẹn huyền nhiệm mà mình thuộc về, đó là huyền nhiệm yêu thương giữa Chúa Kitô và Hội thánh. Bởi thế, việc kết hôn của người Kitô hữu phải thể hiện tính bí tích, đó là điều mà Giáo luật nói tới “Giữa những người đã chịu phép rửa tội, không thể có khế ước hôn phối hữu hiệu nếu đồng thời không phải là bí tích”[3].3. Hôn phối giữa người Công giáo và không Công giáoVì là bí tích, nên việc kết hôn phải được cử hành giữa hai người đã được rửa tội, vì người không được rửa tội thì không có khả năng trao bí tích. Bởi bí tích hôn phối không đơn giản là một nghi lễ mang tính hình thức bên ngoài, không phải chỉ là một khế ước giữa người với người, nhưng đây còn là dấu chỉ thánh nhằm hướng tới một thực tại thánh thiêng, một thực tại trình bày lý do tại sao Giáo hội hiện hữu, đó là thực tại về một tình yêu vô cùng lớn lao mà Chúa Giêsu Kitô dành cho Giáo hội, nhờ tình yêu này, mà con người được quy tụ vào trong cung lòng của Giáo hội, nơi mà mọi người nhận được ơn cứu độ. Vì thế, sự kết hợp của vợ chồng trong hôn nhân diễn tả sự kết hợp giữa Chúa Kitô và Hội thánh. Sự hy sinh của vợ chồng dành cho nhau là hình ảnh sự hy sinh của Chúa dành cho Giáo Hội. Công đồng Vat. II đã nói đến hiệu quả mà bí tích hôn nhân mang lại 1 Khi hai người yêu nhau muốn được Thiên Chúa chúc phúc cho họ, thì Bí tích hai người ban cho nhau, cũng sẽ đem lại cho họ ân sủng và phúc lành của Chúa. 2 Đối với người Công giáo, hôn nhân còn là môi trường giúp cho họ cảm nghiệm được tình yêu Thiên Chúa dành cho họ một cách cụ thể qua tình yêu của người yêu. Nói cách khác, trong tình yêu hôn nhân họ cảm nghiệm được tình yêu Thiên Chúa dành cho họ một cách cụ thể Họ dễ dàng xác tín rằng Thiên Chúa yêu thương họ tha thiết trong vòng tay của người yêu. Tình yêu trong hôn nhân như thế chính là hình ảnh tình yêu của Chúa dành cho con người. GS, số 48. Vì thế, bí tích hôn phối không phải chỉ được cử hành một lần trong nghi thức Phụng vụ, mà còn cần phải được cử hành mỗi ngày một cách cụ thể trong đời sống thường ngày giữa hai vợ chồng bằng cách tận hiến cho Chúa và hy sinh cho nhau. Như thế, Bí tích Hôn phối là một phần thuộc thực tại cứu độ bao la của Thiên Chúa dành cho loài người qua sự tử nạn và phục sinh của Đức Kitô, Con yêu dấu của là dấu chỉ bí tích nên việc kết hôn của người Kitô hữu phải được thực hiện giữa hai người đã được rửa tội như đã trình bày ở trên. Tuy nhiên, tình yêu có bao giờ lại bị giới hạn trong một quy định, một giới luật! Đã là con người, cho dẫu xấu như Thị Nở trong tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao cũng khao khát yêu và được yêu, thì có gì có thể ngăn cản tình yêu nảy nở giữa hai người khi đã bị tiếng sét ái tình đánh gục! Bởi đó Giáo Hội cũng luôn rộng lòng tạo điều kiện cho con cái của mình được thành hôn với những người chưa được rửa tội nếu họ yêu nhau, như đã nói, Giáo hội tạo điều kiện qua phép chuẩn. Phép chuẩn này cho phép người Kitô hữu được kết hôn với lương dân mà không vi phạm luật về bí tích Hôn phối. Việc cho phép này tạo điều kiện cho người tín hữu sau khi kết hôn được tiếp tục thi hành đời sống đức tin Công giáo của mình, cụ thể là được lãnh bí tích Hoà Giải và bí tích Thánh Thể, được tham dự cách tích cực vào các công việc mục vụ trong Giáo chuẩn hôn phối được ban do Đấng bản quyền địa phương. Theo Giáo luật khoản 1125 Nếu có lý do chính đáng và hợp lý, Bản quyền sở tại có thể ban phép ấy; tuy nhiên, đừng nên ban phép khi chưa hội đủ những điều kiện sau đây a. Bên Công giáo phải tuyên bố sẵn sàng xa tránh mọi nguy cơ làm tổn thất Đức tin, và hứa thành thật sẽ làm hết mọi sự có thể để con cái được rửa tội và giáo dục trong Giáo hội Công giáo. b. Vào lúc thuận lợi, phải cho bên kia biết những lời hứa mà người Công giáo phải giữ, để chính họ được thực sự ý thức về lời hứa và bổn phận của bên Công giáo. c. Cả hai bên phải được giáo huấn về các mục đích và đặc tính cốt yếu của hôn phối, và không bên nào được loại bỏ các điều chuẩn như thế để thấy một mặt Giáo hội luôn tôn trọng tình yêu đôi lứa, đàng khác Giáo hội cũng không quên nhiệm vụ chính yếu của mình là luôn hướng dẫn con cái luôn đặt giá trị của ơn cứu chuộc lên hàng đầu. Việc kết hôn giữa một người Công giáo và lương dân không làm thành Bí tích Hôn phối, nhưng đặc tính hôn nhân vẫn có giá trị trọn vẹn, đó là bất khả phân ly và một vợ một chồng, và buộc hai bên phải tuân giữ, vì những đặc tính này không do bí tích Hôn phối mang lại, nhưng là do Thiên Chúa thiết định khi Ngài thiết lập định chế hôn Những thách đốTrong khi đề cao tình yêu nam nữ và ban phép chuẩn cho các cuộc tình không cùng niềm tin Kitô giáo được tiến tới hôn nhân một cách hợp pháp, Giáo hội cũng nhắc nhở con cái của mình đừng quên rằng, trong cuộc sống gia đình, trước mặt còn đối diện với nhiều thách đốa- Về tính bền vững của hôn nhân Cha ông Việt Nam ta có câu “Thuận vợ thuận chồng tát biển Đông cũng cạn”, để nói lên tầm quan trọng của sự thuận thảo trong gia đình, nhất là giữa vợ chồng. Kiểu ông nói gà bà nói vịt thì gia đình không thể nào đạt tới sự thiện ích của nó. Việc thuận vợ thuận chồng không chỉ gói gọn trong các quyết định chỉ liên quan đến những thực tại trần thế như việc đầu tư, việc chọn vợ gả chồng cho con, việc giáo dục con cai... Nhưng còn có một thực tại quan trọng hơn nhiều đó là đời sống tâm linh. Quả thật, đời sống gia đình không luôn luôn là con đường trải đầy hoa hồng, nhưng có thể nói, vợ chồng luôn đối diện với bao thách đố của cuộc đời, bao là bão tố, bao là lo toan. Đứng trước những thách đố, vợ chồng cảm thấy như bất lực, mệt mỏi, chính niềm tin tôn giáo như là chiếc phao cứu sinh. Thế nhưng trong hoàn cảnh niềm tin tôn giáo không cùng song hành với hai vợ chồng thì quả thật đây là vấn đề nan giải. Chẳng hạn ngày Chúa nhật người Công giáo muốn đi lễ để thi hành trọn vẹn đời sống đức tin của mình, nhưng người không Công giáo lại có kế hoạch đưa cả gia đình đi chơi, hạt giống bất hòa bắt đầu được gieo; hay là những nan giải trong việc thờ cúng giỗ chạp giữa các tôn giáo, làm sao phận làm dâu, làm rể có thể chu tất mà không đi ngược lại với đức tin Công giáo? Rồi việc con cái có được rửa tội hay không theo điều đã cam kết?... Vô số vấn đề nảy sinh giữa hai niềm tin khác nhau trong đời sống vợ chồng, và thật là khó nghĩ khi hai người kết hợp nên một thân mình, nhưng trong thân mình đó lại đối kháng với nhau về niềm tin tôn giáo. Kết quả của sự đối kháng đó là sự bất hòa làm cho đời sống vợ chồng nên nặng nề, nảy sinh bao nhiêu là cuộc cãi vã và rồi sự thuỷ chung của đời sống vợ chồng từ từ gãy Về đời sống đức tin của người Công giáo Cho dẫu trong tờ cam kết xin chuẩn hôn phối bên Công giáo hứa sẽ trung thành trong đời sống đức tin, bên không Công giáo cam kết tôn trọng và tạo mọi điều kiện để bên Công giáo sống trọn vẹn với niềm tin của mình. Cam kết là thế, nhưng trong thực tế nhiều đôi hôn phối đã huỷ lời cam kết. Trong một thế giới tục hóa hôm nay, đứng trước trào lưu hưởng thụ ích kỷ, và đề cao các ngẫu tượng như tiền bạc thì quả thật đức tin của người Công giáo trong môi trường của gia đình vắng bóng gương sống đức tin của ông bà, lời nhắc nhủ của cha mẹ, đã bị lung lay và cuối cùng là sống xa lìa hẳn với đức tin Công khi yêu nhau đôi bạn trẻ vẽ bao là mộng đẹp, nhưng khi bước vào cuộc sống hôn nhân mộng đẹp tan vỡ như giọt sương ban mai khi gặp ánh nắng mặt trời. Đức Phanxicô đưa ra lời nhận định “Chỉ khi đối diện với đời sống chung thường nhật, một cuộc sống đòi đôi vợ chồng phải hiến thân và hy sinh cho nhau, một số người mới nhận thấy mình đã không hiểu rõ hôn phối mà họ mới bắt đầu. Và họ thấy mình không thích hợp, nhất là khi phải đối chiếu với tầm mức và giá trị của hôn nhân Kitô, với những khía cạnh cụ thể, gắn liền với đặc tính bất khả phân ly của bí tích hôn phối, sự cởi mở đón nhận hồng ân sự sống và phải chung thủy với nhau”[4].Vì thế, mục vụ cho các đôi hôn phối khác đạo luôn là nỗi trăn trở của các mục tử, mong tìm cách giúp cho đời sống gia đình của họ đạt tới hạnh phúc và thiện ích. Tuy nhiên, điều quan trọng trước tiên chính là ở nơi các bạn trẻ. Do đó, ước mong sao các bạn trẻ luôn tìm hiểu đúng đắn về người mình yêu, và nghiêm túc khi quyết định tiến tới hôn nhân với một ý thức trách nhiệm minh bạch rõ Tập san Hiệp Thông / HĐGM VN, Số 115 tháng 11 & 12 năm 2019[1] Đức Bênêđictô XVI, thông điệp Deus Caritas est, ban hành ngày 25-12-2005 tại Roma, số 11.[2] Đức Phanxicô, bài nói chuyện với khách hành hương tại Roma, ngày 19-6-2013[3] Giáo luật Điều 1055 § 2 [4] Đức Phanxicô, bài nói chuyện vào ngày 27-9-2018 với 850 tham dự viên khóa huấn luyện về “hôn nhân và gia đình” do giáo phận Roma và tòa Thượng Thẩm Rota ở Roma tổ chức từ ngày 24 đến 26-9-2018 tại Đền thờ Thánh Gioan Laterano.
Hôn nhân khác đạo là hôn nhân giữa một bên là Công Giáo và một bên không phải là Công Giáo hoặc không có đạo.Hôn nhân hỗn hợp là hôn nhân giữa một bên là Công Giáo và một bên không Công Giáo, nhưng đã được rửa tội trong đạo Tin Lành hay đạo Chính đạo ai người nấy giữ, thì phải như thế nào thì hôn nhân mới thành sự? Phải xin phép chuẩn nơi tòa Giám Mục. Nếu không có phép chuẩn thì phép hôn phối bất thành. Để được phép chuẩn phải hội đủ các điều kiện sauBên Công giáo phải tuyên bố mình sẵn sàng tránh mọi nguy cơ mất đức tin và thành thật cam kết sẽ làm hết sức để tất cả con cái được Rửa tội và giáo dục trong Giáo Hội Công giáo;Phải thông báo cho bên không Công giáo biết những điều bên Công giáo phải cam kết, để họ ý thức thật sự về lời cam kết và nghĩa vụ của bên Công giáo;Cả hai bên phải được giáo huấn về những mục đích và đặc tính chính yếu của hôn nhân mà không bên nào được phép loại đã có phép chuẩn thì có thể làm phép cưới trong nhà thờ hay tại một nơi khác thích hợp. Nên liên lạc với cha sở sớm!Các bạn tham khảo thêm các bài sauSách Giáo Lý Chuẩn Bị Hôn Nhân
ĐỒNG HÀNH VỚI GIA ĐÌNH ĐANG GẶP KHÓ KHĂN DO HÔN NHÂN KHÁC ĐẠO Lm. Augustino Nguyễn Văn Dụ WHĐ – Giáo luật số 1086 § 1, tuyên bố rằng “Hôn nhân giữa một người đã được Rửa tội trong Giáo hội Công giáo hoặc đã được nhận vào Giáo hội ấy mà không rời bỏ Giáo hội ấy bằng một hành vi dứt khoát với một người không được Rửa tội, thì bất thành”. Đây là một trở ngại liên quan đến một cuộc hôn nhân được cử hành giữa một người được rửa tội trong Giáo hội Công giáo hoặc được đón nhận trong Giáo hội và không bị tách rời do một hành vi chính thức và một người khác không được rửa tội. 1. Lý do của việc ngăn trở Trước hết, lý do của việc ngăn trở này là nhằm bảo vệ đức tin và việc thực hành đạo về phía người đã được rửa tội vì lo ngại về đức tin có thể bị nguy hiểm khi sống với một người không được rửa tội, cũng như để đảm bảo giáo dục theo tinh thần công giáo cho trẻ em và bảo đảm cho vợ chồng cũng như cho cả gia đình một sự hiệp thông trọn vẹn trong cuộc sống không bị tổn hại bởi một niềm tin tôn giáo khác. Đức tin này có thể bị sa sút hoặc bị mất luôn trong trường hợp tín hữu Công giáo thành hôn với một người khác đạo và dần dần trở nên xa rời cuộc sống đức tin của mình. Trong thời Cựu Ước, Kinh Thánh đã ngăn cấm dân Chúa không được kết hôn với người ngoại giáo. Sách Đệ Nhị Luật quy định “Ngươi không được sui gia với dân ngoại, ngươi không được gả con gái ngươi cho con trai chúng và cưới con gái chúng cho con trai người, vì nó sẽ dụ con trai ngươi không theo Ta, làm nó thờ những thần khác, và cơn thịnh nộ Giavê sẽ bừng trên ngươi và kíp tru diệt ngươi đi” Đnl 7,3-4. Nhìn chung, khi đứng trước một cuộc hôn nhân không mang phẩm tính bí tích trong sự kết hợp giữa một người công giáo và một người không được rửa tội, việc kết hợp vợ chồng như một cộng đồng thân mật của đời sống và của tình yêu communitas vitae et amoris mà đối với họ đó là điều phù hợp với và liên quan đến mọi chiều kích cá nhân và sâu xa của vợ chồng, mà thay vào đó là một sự khác biệt về tâm hồn và niềm tin tôn giáo. Điều này tự nó bao gồm cả sự đa dạng về hành vi liên quan đến các khía cạnh có thể cản trở sự hiệp thông trong cuộc sống của vợ chồng, chẳng hạn như về số con được sinh ra và giáo dục chúng hoặc việc thực hành các nghĩa vụ tôn giáo bên ngoài. 2. Quan ngại về đức tin Những khó khăn này sẽ càng nặng nề đổ xuống trên một trong hai muốn thực hành tôn giáo của họ. Trường hợp này sẽ khác khi họ thiếu nhạy cảm đối với các giá trị tôn giáo, cả hai sẽ không đặt nặng vấn đề rằng người kia tiếp tục sống trong niềm tin tôn giáo hay không, vì không ai xác tín về con đường đạo của mình, thì họ cũng không tin có thể sống trọn vẹn theo nhu cầu của đức tin của họ. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là các cuộc hôn nhân này không có gì liên quan trong đời sống đức tin của người đã được rửa tội và của các gia đình sẽ được hình thành do sự kết hợp giữa hai người. Bí tích cũng không chỉ nhằm cho phía người công giáo chúng ta hãy nhớ rằng hôn nhân có bản chất “di truyền”, bao hàm cả một bản sắc về các hiệu ứng dành cho cả hai bên và đòi hỏi cả hai có cùng một hành động mang lại hiệu quả cho mỗi người phối ngẫu. Do đó, hành động ấy mang lại hiệu lực như nhau cho cả hai bên, nên bí tích phải là unum et individuum. Như vậy, hôn nhân bí tích duy nhất là cuộc hôn nhân được hai chủ thể đã được rửa tội nếu cả hai không phải là những người đã được rửa tội mà cử hành, thì sẽ không có bí tích cho bên nào cả, ngay cả khi họ tuân theo hình thức giáo luật. 3. Tiên liệu và sư phạm Trong viễn cảnh này, sự ngăn trở của hôn nhân khác đạo có thể giải quyết được nhờ việc tiên liệu và mang tính sư phạm, bởi vì nó ngăn cản phía công giáo tiếp cận một loại hôn nhân làm suy yếu chiều kích thiết yếu của bí tích, mặc dù trên thực tế giáo luật ngày càng giới hạn sự can thiệp của mình vào vấn đề này, để lại trách nhiệm và việc phân định của người công giáo về sự lựa chọn và cam kết của họ. Do đó, những bất lợi nghiêm trọng đối với hôn nhân giữa công giáo và người không được rửa tội là ratio legis do luật lệ đã được các nhà lập pháp làm ra từ những thế kỷ đầu tiên của Giáo hội, vì họ cảm thấy lo ngại liên tục về việc bảo vệ quyền thiêng liêng, do việc giả định rằng người công giáo kết hôn với một người không được rửa tội sẽ bị đặt vào tình trạng nguy hiểm cho đức tin khiến họ không trung thành với những đòi hỏi cơ bản của đời sống Kitô hữu[1]. 4. Định hướng Các định hướng thực tế của thần học trong các vấn đề bí tích hôn nhân, trong thực tế, khẳng định rằng hôn nhân, như một thực tại của con người, có chính Thiên Chúa là tác giả, như Công đồng Vatican II đã tuyên bố cách rõ ràng “Ipse vero Deus est auctor matrimonii”, chính Thiên Chúa là ấng tác tạo hôn nhân GS 48. Nó không chỉ bắt nguồn từ Thiên Chúa, mà trong đó nó bày tỏ cách đặc biệt ơn gọi sâu sắc của mình, đó là mối quan hệ với Thiên Chúa, nơi nó tìm thấy sự kiện toàn cách trọn vẹn và dứt khoát của mình trong sự kết hợp của Chúa Kitô và của Giáo hội. Trong viễn cảnh ấy, người ta có thể nói về tính bí tích theo nghĩa rộng cũng cho hôn nhân ngoài Kitô giáo[2]. Tuy nhiên, người ta muốn hiểu vấn nạn về tính bí tích hôn nhân được ký kết với sự miễn chuẩn khỏi ngăn trở khác đạo, có thể khẳng định rằng, hôn nhân ấy dù không phải là bí tích, ngay cả đối với bên đã được rửa tội, vẫn luôn là một cuộc hôn nhân hợp giáo luật, có một giá trị tôn giáo và Giáo hội không thể chối cãi, điều này không cho phép chúng ta coi nó như bất kỳ kết hợp thuần túy dân sự nào. Như vậy, thẩm quyền của Giáo hội phán xét về những cuộc hôn nhân này không cần phải bàn cãi vì nó hợp lệ và hợp pháp, cuộc hôn nhân giữa một người công giáo và một người không được rửa tội đặt đôi bên kết ước trong một hoàn cảnh hợp với giáo luật cho phép bên công giáo được lãnh nhận các bí tích và thi hành tất cả các việc phục vụ mà Giáo hội đòi hỏi phải có một cuộc sống phù hợp với đức tin và với nhiệm vụ mà người ấy đảm nhận. Mặc dù là một cuộc hôn nhân không bí tích, nhưng vẫn luôn là một sự kiện mang tính giáo hội sự ràng buộc mà hai người kết ước không chỉ có giá trị đối với đời sống thiêng liêng của đôi bạn, mà còn là một chứng tá cho cuộc sống và sứ mạng của cả Giáo hội, cho dù việc chứng tá này cách khách quan không rõ ràng như đời sống chứng tá từ việc kết hôn của hai người đã được rửa tội. Do đó, qua người phối ngẫu đã được rửa tội, hôn nhân được ký kết với sự miễn chuẩn ngăn trở khác đạo trở thành chứng tá và sự tham dự vào tình yêu của Thiên Chúa là Đấng mà qua đức tin của bên đã được rửa tội và sự gắn kết vào mầu nhiệm cứu độ của Chúa Kitô, càng trở nên gần gũi hơn với mỗi người, dù người ấy không phải là người tín hữu, muốn chiếu sáng và thanh tẩy tình yêu của con người bằng tất cả vẻ đẹp của nó. 5. Hoàn cảnh ngày nay Chắc chắn thực tại của hôn nhân giữa một người đã được rửa tội trong Giáo hội Công giáo và một người không được rửa tội cũng lâu đời như chính Giáo hội, nhưng ngày nay thực tại được cảm nhận nhiều hơn chính trong chiều kích xã hội, cả khi không còn đồng nhất về mặt tôn giáo, cũng làm mất tính đa dạng nhưng là để bảo vệ và nâng cao bản sắc cá nhân, tự do của lương tâm và của tôn giáo. Giáo hội, theo giáo huấn ràng buộc của Đấng sáng lập cho tự do của con người, không sợ phải đối đầu với những người chưa gặp Ngôi Lời mà trái lại, nhân cơ hội này để chuyển tải và thông truyền giáo huấn của mình mà không sợ việc làm này có thể xúc phạm bản sắc của người khác, nhưng với nhận thức rằng còn có một món quà dành cho tất cả mọi người và phải được đề xuất với lòng tôn trọng sự tự do của mỗi người, tình yêu của Chúa Kitô, đồng thời cũng quan tâm đến những cuộc kết hôn ấy có thể xây dựng được một sự phong phú thiêng liêng cho các cộng đồng Kitô hữu và cho cuộc hành trình đại kết[3]. 6. Nhìn lại việc miễn chuẩn ngăn trở hôn nhân Việc cấp giấy miễn chuẩn ngăn trở hôn nhân khác đạo là một phần của bản quyền địa phương, về vấn đề này, cần phải nhấn mạnh rằng, nếu không có quyền có được ơn sủng, thì vẫn có quyền của người tín hữu xin ơn huệ, quyền có được một sự trả lời và khiếu nại đến cơ quan có thẩm quyền trong trường hợp có sự trả lời tiêu cực[4]. Mặt khác, bản quyền địa phương, trong việc thẩm định đơn yêu cầu nhận được, thì cần theo các tiêu chí khách quan, chứ không tuân theo sự độc đoán của mình, vì nó không tùy thuộc ý muốn của người thực thi quyền bính mà đó là quyền của người tín hữu được giúp đỡ để đạt được lợi ích thiêng liêng của mình trong hôn nhân thì cần thực thi đúng đắn ius connubii. Người có thẩm quyền được mời gọi thi hành quyền miễn chuẩn cách thận trọng và kín đáo, không những chỉ đáp ứng đòi hỏi chính đáng của vợ chồng, mà của cả cộng đồng giáo hội trong các hoàn cảnh của thời gian và nơi chốn nhất định. Do đó, một đàng cần có sự bảo vệ lợi ích chung, nghĩa là tôn trọng giá trị của hôn nhân, đàng khác đó là quyền lợi của người tín hữu trong việc kết hôn theo quan điểm này, việc miễn chuẩn được đặt ra như một yếu tố cần thiết để dung hòa hai quyền lợi ấy và đó là chìa khóa có khả năng cân bằng giữa các lĩnh vực chung cũng như riêng theo nguyên tắc equitas canonica. Nhưng cũng nên quan tâm đến vai trò sư phạm của luật giáo hội là không nên quá dễ dàng trong việc miễn chuẩn để tránh nguy cơ làm suy yếu đặc điểm này. 7. Cái nhìn của Thượng Hội đồng Giám mục năm 2015 Một cơ hội quan trọng để đọc lại vai trò đặc trưng của nơi có thẩm quyền miễn chuẩn hôn nhân khác đạo được Thượng Hội đồng Giám mục vào ngày 24 tháng 10 năm 2015[5], sau khi đã suy tư về những thách đố mục vụ về gia đình trong bối cảnh phúc âm hóa. Cách cụ thể, Thượng hội đồng nhấn mạnh đến sự ngăn trở về hôn nhân khác đạo, phân tích ý nghĩa của việc miễn chuẩn có thể xảy ra dưới ánh sáng của bối cảnh đa văn hóa và đa tôn giáo đặc trưng cho xã hội hôm nay. Tại số 25 của Relatio Synodi, chúng ta đọc thấy rằng “ở các quốc gia mà sự hiện diện của Giáo hội Công giáo là thiểu số, có nhiều cuộc hôn nhân hỗn hợp và khác đạo với tất cả những khó khăn mà họ gặp phải về nhiều lãnh vực pháp lý, rửa tội, giáo dục trẻ em và tôn trọng nhau từ quan điểm về sự khác biệt của đức tin. Trong những cuộc hôn nhân này có thể có nguy cơ theo chủ nghĩa tương đối hoặc thờ ơ, nhưng cũng có thể có khả năng cổ võ tinh thần đại kết và đối thoại liên tôn trong sự chung sống hài hòa của các cộng đồng sống cùng một nơi”. Từ việc phân tích bộ luật của các cuộc hôn nhân hỗn hợp can, 1124 tt. và những vụ kết hợp với sự miễn chuẩn khỏi ngăn trở khác đạo cann. 1086, lý lẽ rõ ràng của nhà làm luật là bảo vệ đức tin và tập tục Kitô giáo về phía người công giáo có thể bị nguy hiểm khi chung sống hôn nhân với một người phối ngẫu chưa được rửa tội hoặc rửa tội trong một cộng đồng không công giáo, để bảo đảm việc giáo dục cho con cái và bảo đảm cho vợ chồng và cả gia đình được hiệp thông trọn vẹn của cuộc sống có thể bị tổn hại do thực hành một niềm tin tôn giáo khác. Thật vậy, người ta cho rằng các cuộc kết hợp hôn nhân như vậy có thể làm cho sự hòa nhập của vợ chồng trở nên khó khăn hơn trong “cộng đồng thân mật”, đó là communitas vitae et amoris, đặc tính của hôn nhân theo giáo luật và liên quan đến các chiều kích cá nhân và sâu sắc nhất của vợ chồng, mà do một sự khác biệt về niềm tin tôn giáo có thể cản trở sự hiệp thông cả trong sự chọn lựa chẳng hạn như số con cái và giáo dục chúng hoặc thực hành việc sống đạo. Đàng khác, hôn nhân là một tổ chức luật tự nhiên và là ius nubendi, trong đó mỗi đối tượng là chủ sở hữu, rất khó để thừa nhận các lệnh cấm. Các nhà làm luật, cả trong kỷ luật về các cuộc hôn nhân hỗn hợp, và cả việc ngăn trở hôn nhân khác đạo, không có ý định làm suy yếu hoặc hạ thấp quyền này nhưng thật ra chỉ muốn tuân giữ bậc thang giá trị thật vậy, ius nubendi chỉ bị chặn khi các giá trị cao hơn của trật tự siêu nhiên, như đức tin, đời sống ân sủng, trung thành với những đòi hỏi của lương tâm đã được huấn luyện cách đúng đắn của một người, bị xâm phạm và định kiến. Vì thế, việc miễn chuẩn không nên được coi là một công cụ để hạn chế tự do của người đã được rửa tội, nhưng đó chỉ là một phương tiện để hỗ trợ các tín hữu trong việc bảo vệ đức tin của họ, giúp cho các đôi vợ chồng trở thành một “phòng thí nghiệm” thú vị liên quan đến nhiều vấn đề rộng lớn hơn những vấn đề đối phó với những xung đột trong các mối tương quan và mang tính gia đình. Thượng Hội đồng Giám mục năm 2015 cống hiến cho chúng ta cách đọc bằng một lăng kính mới, việc miễn chuẩn khỏi ngăn trở hôn nhân khác đạo disparitas cultus nói riêng và khỏi những ngăn trở hôn nhân khác nói chung thay vì bị coi là một trở ngại đối với việc thực thi ius connubii thì có thể được coi như một sự trợ giúp mà các nhà làm luật mong sao cho mỗi tín hữu có thể thực hiện tốt nhất quyền nói trên, mà không phải chịu một sự bất hợp pháp nào có thể xảy ra đối với hôn nhân đã được cử hành, cũng như cùng một lợi ích chung có thể được bảo vệ cách tốt nhất. Do đó, kỷ luật của việc chuẩn chước muốn trở thành công cụ cho việc mục vụ được công bằng hơn và trở nên mối quan tâm thường xuyên để bảo vệ salus animarum, luật tối cao của Giáo hội, ngay cả khi nói đến các việc nhằm lợi ích thiêng liêng của mỗi người tín hữu. 8. Nhìn vào thực tế tại Việt Nam Những lý do đưa đến sự thận trọng Trong thực tế tại Việt Nam, nhiều bậc cha mẹ và chính tín hữu Công giáo thường đặt điều kiện người không Công giáo phải theo đạo thì mới gả con cho hoặc mới chịu kết hôn. Lý do vì tôn giáo là điều có liên hệ thực sự tới trọn cả cuộc sống con người và trong hôn nhân, hai vợ chồng cần chia sẻ cùng những xác tín căn bản như tín ngưỡng thì cuộc sống mới có thêm yếu tố được bền chặt. Thêm vào đó còn có vấn đề giáo dục con cái nữa. Có trường hợp một phụ nữ Công giáo lấy chồng không Công giáo. Mỗi sáng Chúa nhật nàng lủi thủi đi lễ một mình, hoặc có khi ông chồng có tháp tùng vợ đi nhà thờ và chàng đi uống cà phê. Rồi những đứa con sinh ra không được rửa tội và giáo dục theo đức tin công giáo. Vào cuối đời nhờ gương sáng của người vợ, ông chồng đã xin theo đạo, nhưng rồi con cái đã lớn, đã lập gia đình và vì không được giáo dục theo đức tin, nên không muốn theo. Ngoài ra, cũng có trường hợp ví dụ người công giáo xác tín phá thai là một tội ác giết người, nhưng người chồng theo một tôn giáo nào khác cho rằng phá thai chẳng hề chi, vì bào thai chưa phải là người, và vì thế chàng đòi buộc nàng phải phá thai. Hay trường hợp một người theo tôn giáo khác cho rằng hôn nhân không nhất thiết phải là một vợ một chồng, vì “đàn ông được năm thê bảy thiếp”, trong khi theo giáo lý công giáo, hôn nhân nhất thiết phải là “nhất phu nhất phụ”. Sự khác biệt tôn giáo với những sự kiện trên đây chỉ là tương đối, nhưng chúng có thể là nguồn gây nên căng thẳng trong cuộc sống về lâu về dài giữa hai vợ chồng và có thể làm cho hai người mất hạnh phúc hôn nhân. 9. Đức tin là một kho tàng cần được bảo vệ Đối với tín hữu công giáo, đức tin là điều kiện tiên quyết để được cứu rỗi và đó là giá trị cao cả hơn hạnh phúc nói chung và hạnh phúc hôn nhân gia đình ở đời này nói riêng vì như Chúa Giêsu đã dạy “Được lời cả thế gian mà mất linh hồn thì nào được ích gì”. Chính vì lý do đó, Giáo hội và nhiều bậc phụ huynh thường khuyên bảo các tín hữu và con em mình chỉ nên thành hôn với những người đồng đạo. Vì điều kiện này nên có những người vì muốn thành hôn với một tín hữu công giáo đã chấp nhận theo đạo công giáo. Tuy nhiên, Giáo hội đã tỏ ra rất thận trọng trong những trường hợp “người theo đạo chỉ để lấy vợ hoặc lấy chồng” mà thôi, và khi đã đạt được mục tiêu rồi, họ gạt đạo sang một bên. Bởi vậy, Việt Nam ta có câu ca dao. “Con quỳ lạy Chúa Ba Ngôi, con cưới được vợ con thôi nhà thờ”. Ngược lại trong thực tế, cũng có những người, nhờ dịp thành hôn, họ đón nhận đạo công giáo như lý tưởng của cuộc đời và có khi còn nhiệt tâm hơn cả người vợ hay người chồng công giáo gốc. 10. Việc miễn chuẩn Nếu sau khi đã được trình bày đầy đủ về các lý lẽ trên đây mà hai người nhất định lấy nhau, đạo ai người nấy giữ, thì họ vẫn có thể xin giáo quyền chuẩn chước để được thành hôn với nhau. Giáo luật hiện hành của Công giáo, trong khoản 1086, triệt 1 xác định rằng hôn nhân giữa một người đã được rửa tội và một người chưa được rửa tội bị coi như bất thành và vô hiệu lực. Tuy nhiên, bản quyền địa phương Đức Giám mục hay Cha Tổng Đại diện có quyền miễn chuẩn cho hai người kết hôn, nếu có lý do chính đáng và nếu hội đủ những điều sau đây – Thứ nhất là phía Công giáo phải tuyên bố sẵn sàng loại bỏ tất cả những gì có nguy hại cho đức tin và họ phải thực sự cam đoan sẽ cố gắng hết sức để con cái sinh ra được rửa tội và giáo dục trong Giáo hội công giáo GL 1125,1. – Thứ hai là phía không công giáo cũng được thông báo kịp thời về những lời cam đoan ấy, để họ có ý thức về nghĩa vụ của người bạn đường công giáo của mình GL 1125,2. – Điều kiện thứ ba là cả hai bên, công giáo cũng như không công giáo, cần phải được giáo huấn về mục đích và đặc tính thiết yếu của hôn nhân, đặc biệt là đặc tính một vợ một chồng và bất khả phân ly của hôn nhân GL 1125, 3. Nói tóm lại, tuy hôn nhân khác đạo là điều có thể, nhưng đây cũng là điều hết sức tránh, vì những lý do đã nói trên đây. Sở dĩ Giáo hội, hoặc các bậc phụ huynh hoặc chính người tín hữu công giáo thành hôn mong muốn phía không công giáo gia nhập Giáo hội, đó cũng nhằm mưu hạnh phúc thực sự cho hai người trong cuộc sống hôn nhân cũng như cho con cái sau này, chứ không nhằm mục đích chiêu mộ tín đồ hoặc ép buộc lương tâm người khác. Trong trường hợp phía không công giáo nhất định muốn giữ đạo của mình và không thể tránh cuộc hôn nhân đó được, thì ít nhất phía không công giáo phải tôn trọng những xác tín tôn giáo của phía công giáo, và phía tín hữu công giáo phải làm hết sức để bảo tồn đức tin của mình. Trong Tông huấn Familiaris Consortio về “bổn phận của Gia Đình Kitô hữu trong thế giới ngày nay”, Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II khuyên những người công giáo kết hôn với người khác đạo phải cố gắng hết sức sống một đời sống đức tin gương mẫu ngay trong gia đình của mình, để làm chứng cho Chúa trước mặt người bạn đường của mình cũng như đối với con cái của mình xem FC 78. Đức Giáo hoàng Phanxicô trong Tông huấn Amoris Laetitia tổng hợp những gì chúng ta vừa trình bày để kêu gọi các mục tử cần có một chương trình chăm sóc mục vụ đặc biệt cho vấn đề này “Những hôn phối khác đạo là nơi ưu việt cho cuộc đối thoại liên tôn [...] có một số khó khăn đặc biệt cả về căn tính Kitô giáo của gia đình, lẫn về việc giáo dục đức tin cho con cái. [...] Số các gia đình mà đôi vợ chồng kết hợp theo hôn phối khác đạo ngày càng tăng trong các vùng truyền giáo và ngay cả tại các nước có truyền thống Kitô giáo lâu đời, đòi hỏi khẩn thiết phải có chương trình chăm sóc mục vụ đặc biệt tùy theo bối cảnh xã hội và văn hóa khác nhau”. AL 248. Để thêm tin tưởng trong việc mục vụ này, chúng ta hãy nhìn vào tấm gương của thánh nữ Monica. Thánh nữ kết hôn với một người ngoại giáo. Nhưng qua cuộc sống gương mẫu và nhờ sức mạnh của lời cầu nguyện, thánh nữ đã hoán cải được người chồng của mình và ông đã xin rửa tội trước khi qua đời. Ngoài ra, thánh Monica còn làm cho con của mình là Augustinô, sau thời kỳ sống xa Chúa, đã xin được rửa tội và sau này trở thành vị đại thánh tiến sĩ của Giáo hội. Trước đó thánh Phêrô cũng đã khuyên những người vợ Công giáo có chồng khác đạo, hãy ăn ở xứng đáng, để người chồng dù không tin lời giảng, nhưng vẫn có thể được lợi ích nhờ tấm gương của người vợ xem Thư I Phêrô 3, 1-2. Trích Tập san Hiệp Thông / HĐGMVN, số 115 tháng 11 & 12 năm 2019 [1] xem Xh 34,15-16 “Ngươi không được lập giao ước với dân cư trong xứ, kẻo khi chúng đàng điếm với các thần của chúng và tế họ, chúng sẽ mời ngươi và ngươi sẽ ăn đồ cúng của chúng, ngươi sẽ kén vợ cho con trai ngươi trong số con gái chúng, con gái chúng sẽ đàng điếm với các thần của chúng và làm cho con trai ngươi đàng điếm với các thần đó”. Rõ ràng cả trong trường hợp này Ông Maisen đặt luật cấm nhằm bảo vệ đức tin cho dân mình. [2] Xem. M. Mingardi, L’esclusione della dignità sacramentale dal consenso matrimoniale nella dottrina e nella giurisprudenza recenti, Pontificia Università Gregoriana, Roma, 2001, p. 29 ss [3] Cfr. Agostino, Matrimoni misti e problemi pastorali, in Diritto matrimoniale canonico, LEV, Città del Vaticano, 2005, p. 292 ss. [4] Cfr. P. Pavanello, Licenze e dispense matrimoniali, in Quaderni di diritto ecclesiale, 4, 2011, p. 501 ss. [5] Cfr. F. Gravino, Sinodo sulla famiglia e matrimoni misti, in Matrimonio e processo per un nuovo Umanesimo. Il Mitis Iudex Dominus Iesus di Papa Francesco, a cura di P. Palumbo, Giappichelli, Torino 2016, p. 77 ss.,il quale ricorda che l’indizione da parte di Papa Francesco nell’ottobre del 2014 della III Assemblea Generale Straordinaria del Sinodo dei Vescovi dedicata alle “Sfide pastorali sulla famiglia nel contesto dell’evangelizzazione” aveva già manifestato l’intenzione del Romano Pontefice di riflettere in merito all’esperienza familiare, che è “scuola di umanità” GS, n. 52 e che è centrale nella vita di tutti, in ragione del suo essere “Chiesa domestica” LG, n. 11 nhắc lại rằng Đức Giáo hoàng Phanxicô đã tuyên bố Thượng hội đồng Giám mục đặc biệt vào tháng 10 năm 2004 dành riêng cho “những thách đố mục vụ về gia đình trong bối cảnh Tân Phúc Âm Hóa” đã bày tỏ ý định của ngài dành để suy tư về kinh nghiệm gia đình, như là một “trường học của nhân loại” GS, số 52 và là trung tâm của cuộc sống của tất cả mọi người, bởi vì bản chất là “Giáo hội tại gia” LG, số 11.
Mẫu đơn xin chuẩn hôn nhân khác đạo là gì? Mẫu đơn xin chuẩn hôn nhân khác đạo để làm gì? Mẫu đơn xin chuẩn hôn nhân khác đạo 2021? Hướng dẫn viết đơn? Thông tin liên quan?Kết hôn là vấn đề tự nguyện giữa một nam và một nữ và theo quy định của pháp luật về kết hôn, Vậy thì hôn nhân khi Nam, nữ theo đạo thì có gì khác biệt. và kết hôn giữa những người khác đạo có gì đặc biệt. Hôn nhân khác đạo là hôn nhân giữa một người Công giáo và một người không được Rửa tội. Hôn nhân dị giáo bị ngăn trở tiêu hôn, nên phải được miễn chuẩn ngăn trở thì mới kết hôn thành sự Sẽ không được Đấng Bản quyền miễn chuẩn nếu không chu toàn những điều kiện về việc bên Công giáo” phải tuyên bố mình sẵn sàng tránh mọi nguy cơ mất đức tin và thành thật cam kết sẽ làm hết sức để tất cả con cái được Rửa tội và được giáo dục trong Giáo hội Công giáo. vậy mẫu đơn xin chuẩn hôn nhân khác đạo thì cần làm những gì ? hãy tìm hiểu về các thông tin liên quan tới xin chuẩn hôn nhân khác đạo dưới bài viết sau đây. Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài Mẫu đơn xin chuẩn hôn nhân khác đạo là mẫu đơn soạn gửi tới đức cha, giáo phận… để xin chuẩn hôn nhân khác đạo. Mẫu đơn xin chuẩn hôn nhân khác đạo là mẫu đơn được lập ra để xin được chuẩn hôn nhân khác đạo 2. Mẫu đơn xin chuẩn hôn nhân khác đạo GIÁO PHẬN ………… Giáo hạt ……………… Giáo xứ ……………… ĐƠN XIN CHUẨN HÔN NHÂN KHÁC ĐẠO Phải viết bằng tay Kính gửi Đức Cha ………. Giám mục giáo phận …….. Con tên là tên thánh, họ tên ………………. Sinh ngày ………….. tháng ……….. năm ………………. Rửa tội ngày………………. tháng …………. năm ……………… Sổ Rửa tội ………….. Thêm sức ngày…………. tháng …………. năm ……………… Sổ Thêm sức ………… Con ông tên thánh, họ tên …………… Và bà tên thánh, họ tên ……….. Hiện ở địa chỉ đầy đủ…………. Thuộc Giáo xứ ………… Con dự định kết hôn với anh/cô …………….. Sinh ngày …….. tháng … năm……. tại ……. Tôn giáo ……….. Con ông ………… Và bà ……….. Hiện ở địa chỉ đầy đủ ………… ………… Bạn con hiện …….. có gia đình. Bạn con chưa muốn vào Đạo vì ………… nên con làm đơn này xin Đức Cha ban Phép Chuẩn Hôn Nhân Khác Đạo cho chúng con. Phần con, con cam kết – Sẵn sàng tránh xa mọi nguy cơ làm tổn hại đức tin; – Sẽ hết sức cố gắng để con cái được Rửa tội và được giáo dục trong đức tin Công giáo. – Bạn con đã được thông báo và ý thức thực sự về những điều con cam kết trên. – Cả hai chúng con đều hiểu biết về bản chất, những mục đích và đặc tính chính yếu của hôn nhân Kitô giáo, và không loại trừ điều gì. Kính xin Đức Cha ban phép chuẩn và chúc lành cho hôn nhân của chúng con. ……….., ngày…tháng…năm… Bên không Công giáo Ký và ghi họ tên Bên Công giáo Ký và ghi họ tên Ý kiến của Cha Quản xứ hoặc Cha đặc trách Con là ………… , Quản xứ hoặc đặc trách giáo xứ , xác nhận những điều trong đơn xin chuẩn hôn nhân khác đạo của anh/chị …………. đúng sự thật. Con đã làm đủ các thủ tục cho anh/chị ………….. trước khi kết hôn theo Giáo luật. Kính xin Đức Cha ban chuẩn hôn nhân khác đạo cho anh/chị …, ngày…tháng…năm… Ký tên và đóng dấu 3. Hướng dẫn viết đơn – Ghi đầy đủ thông tin cá nhan – Kết hôn với ai – cam kết Sẵn sàng tránh xa mọi nguy cơ làm tổn hại đức tin; – Sẽ hết sức cố gắng để con cái được Rửa tội và được giáo dục trong đức tin Công giáo. – Bạn con đã được thông báo và ý thức thực sự về những điều con cam kết trên. – Cả hai chúng con đều hiểu biết về bản chất, những mục đích và đặc tính chính yếu của hôn nhân Kitô giáo, và không loại trừ điều gì. – Kính xin Đức Cha ban phép chuẩn và chúc lành cho hôn nhân của chúng con. – Cuối cùng là ý kiến của cha và chữ kí của người làm đơn 4. Thông tin liên quan – Việc chuẩn hôn phối như sau Giáo Hôi Công giáo luôn tôn trọng tình yêu đôi lứa, và không đưa ra bất cứ một hình thức kỳ thị nào trong việc biểu tỏ tình yêu của đôi bạn nam nữ. Tuy nhiên, trong khi nỗ lực hoạt động để bảo vệ phẩm giá của hôn nhân gia đình, Giáo Hội cũng không thể bỏ quên sứ vụ chính yếu của mình là mang ơn cứu độ đến cho mọi người. Vì thế, việc bảo vệ đức tin của các tín hữu là trách nhiệm hàng đầu của Giáo Hội như là Mẹ, bởi chính Giáo Hội sinh ra các kitô hữu. – Vì thế mà đặt ra ngăn trở tiêu hôn vì lý do đức tin là để minh định rằng đức tin là ân huệ lơn lao nhất của người tín hữu, và nó không được đánh đổi bởi bất cứ lý do gì, vì đánh mất đức tin là đánh mất sự sống đời đời. – Tuy nhiên, Giáo Hội như là Mẹ hiền, luôn đồng cảm với thân phận yếu đuối của con người, và thấu hiểu được lý lẽ của con tim, nên Giáo Hội đã đưa ra sự chuẩn chước cho con cái của mình khi muốn kết hôn với người không phải là công giáo. Đưa ra sự chuẩn chước này một mặt Giáo Hội tôn trọng tình yêu đôi lứa, mặt khác Giáo Hội vẫn thể hiện sự quan tâm về đời sống đức tin của con cái mình. – Điều kiện để được chuẩn hôn phối Phép chuẩn hôn phối được ban do Đấng bản quyền địa phương. Theo Giáo luật khoản 1125 Nếu có lý do chính đáng và hợp lý, Bản Quyền sở tại có thể ban phép ấy; tuy nhiên, đừng nên ban phép khi chưa hội đủ những điều kiện sau đây + Bên công giáo phải tuyên bố sẵn sàng xa tránh mọi nguy cơ làm tổn thất Đức Tin, và hứa thành thật sẽ làm hết mọi sự có thể để con cái được rửa tội và giáo dục trong Giáo Hội công giáo. + Vào lúc thuận lợi, phải cho bên kia biết những lời hứa mà người công giáo phải giữ, để chính họ được thực sự ý thức về lời hứa và bổn phận của bên công giáo. + Cả hai bên phải được giáo huấn về các mục đích và đặc tính cốt yếu của hôn phối, và không bên nào được loại bỏ các điều ấy. + Tuổi để được chuẩn hôn phối Về tuổi để được chuẩn hôn phối thông lệ vẫn theo số tuổi kết hôn thành sự. Theo Giáo luật Người nam phải đủ 16 tuổi, người nữ phải đủ 14 tuổi. Tuy nhiên Hội đồng Giám Mục có quyền ấn định tuổi lớn hơn để kết hôn hợp pháp. Cách chung, Hội Đồng Giám Mục Việt Nam qui định tuổi kết hôn theo luật Hôn Nhân và Gia Đình tại Việt Nam nam bước vào tuổi 20 và nữ bước vào tuổi 18. Ngoài ra, mỗi Giáo phận vì lý do mục vụ, Đức Giám Mục Giáo phận có quyền qui định tuổi để được chuẩn hôn phối. – Đối với Việc cử hành thánh lễ hôn phối dành cho các đôi chuẩn hôn phối Thánh lễ hôn phối diễn tả mầu nhiệm Đức Kitô yêu thương Hôi Thánh, được biểu tỏ cách cụ thể qua giao ước hôn nhân của hai người nam nữ kitô hữu. Giáo ước hôn nhân này vì thế được gọi là bí tích. – Về Giao ước hôn nhân giữa một người được rửa tội và một người không được rửa tội không đủ yếu tố để trở thành bí tích, vì thế, việc cử hành hôn phối này trong Thánh Lễ sẽ không đạt tới mục đích của Thánh Lễ Hôn phối. Ngoài ra Thánh Lễ là một Mầu nhiệm dành cho những người có đức tin, bởi nếu không có đức tin họ sẽ không thể tuyên xưng điểm cốt yếu của mầu nhiệm Thánh Thể tuyên xưng Chúa Giêsu Chết, Phục sinh và Đến trong vinh quang, và như vậy Thánh Lễ đối với họ đơn giản chỉ là một nghi lễ bình thường mang đặc tính của một tín ngưỡng chứ không phải là hình thức phụng vụ mang đặc tính tôn giáo. Và thật là không hay khi trong Thánh Lễ hôn phối giữa hai vợ chồng đã có hai cái nhìn khác nhau ngay từ giây phút tỏ bày giao ước hôn nhân. Vì vậy, bộ Phụng Tự và Kỷ luật Bí tích đã chuẩn bị một nghi thức cử hành hôn phối ngoài thánh lễ, đặc biệt dành cho người công giáo kết hôn với người không công giáo. – Nghi thức được tiến hành như sau – Cử hành kết hôn khác đạo phải theo nghi thức cử hành hôn phối ngoài Thánh Lễ. Có thể linh động cử hành kết hôn khác đạo trước hay sau Thánh Lễ. Cũng có thể cử hành nghi thức kết hôn trong nhà thờ hoặc một nơi thích hợp khác và Nơi thích hợp khác có thể là tại tư gia. Tuy nhiên, việc cử hành kết hôn tại tư gia chỉ nên áp dụng cho trường hợp thành sự hóa hay hợp thức hóa hôn phối cho đôi hôn phối đã sống chung hay chỉ đã kết hôn theo luật dân sự, và nay bên lương lại không chấp nhận đến nhà thờ. – Về việc thờ cúng tổ tiên như sau Người tân tòng trở về nhà cha mẹ mình, hay người phối ngẫu sống trong gia đình bố mẹ vợ/chồng ngoại giáo. Được thực hành những việc đốt hương, nhang, đèn, nến trên bàn thờ gia tiên; Được vái lạy trước bàn thờ gia tiên hay giường thờ tổ tiên, vì là những cử chỉ thái độ hiếu thảo tôn kính đối với ông bà tổ tiên; Ngày “kỵ nhật” tức ngày giỗ được “cúng giỗ” trong gia đình theo phong tục địa phương, Trong tang lễ, được vái lạy trước thi hài người quá cố, đốt hương vái theo phong tục địa phương, Được tham dự nghi lễ tôn kính vị Thành Hoàng quen gọi là “Phúc thần” tại đình làng, để tỏ lòng cung kính biết ơn những vị đã có công với dân tộc hoặc là ân nhân của dân làng. Trên đây là các thông tin về hôn nhân khác đạo và xin chuẩn hôn nhân khác đạo với các thông tin như mẫu đơn, hướng dẫn, thông tin đi kèm để có thê xin chuẩn hôn nhân khác đạo được tiến hành nhanh nhất.
hon nhan khac dao